Các cháu thân mến,
Đêm đã khuya,ngoài trời mưa đã rơi, khiến ông cảm thấy
trống vắng tràn
ngập tâm hồn.
Ông nhớ lại
quãng đời niên
thiếu của mình,
cái tuổi của các
cháu bây giờ; tụ
nhiên ông cảm
thấy lạc quan
một cách kỳ lạ,
bởi vì ông đặt
long tin nơi các
cháu và mong tìm
được nơi độ tuổi
đó sự kỳ vọng
một tương lai
tươi sáng tốt
đẹp. Cũng vì lẽ
đó, ông muốn trò
chuyện cùng các
cháu qua lá thư
này.
Các cháu thân mến! Nhớ lại quá khứ của chính mình, hiển
nhiên là một
điều cần thiết
để có kinh
nghiệm sống hiện
tại và xây dựng
tương lai. Chắc
các cháu cũng
đồng ý với ông
về điểm này. Ông
kể cho các cháu
nghe vài sự việc
vừa xảy ra trong
quãng đời dạy
học của ông, vào
những năm tháng
xa xưa; đã cách
nay già nửa thế
kỷ, song chúng
vẫn còn mãi
trong tâm như
những hoài
niệmsâu đậm, khó
phai mờ.
Ông nhớ, khoảng năm 1940, ông dạy tại trường Đệ Tử Dòng
Chúa Cứu Thế (Juvénat
des
P.Rédemptoristes)
và trường Thiên
Hữu (Collège de
la Providence).
Đó là hai trong
số những trường
lớn và uy tín
nhất lúc bấy giờ
ở cố đô Huế. Hôm
đó là ngày lễ kỷ
niệm Hai Bà
Trưng. Ngày áp
lễ vẫn không có
thông báo lễ và
nghỉ dạy; nghĩa
là trường vẫn
sinh hoạt như
thường lệ. Sinh
hoạt như thường
lệ? Lạ thật!...
Ông nghĩ, về
phía nhà trường
đó là sự thờ ơ,
khó mà chấp nhận
được nếu không
muốn nói, là một
sự xúc phạm đối
với lịch sử dân
tộc! Suốt đêm,
đầu óc ông làm
việc rất nhiều.
Ông suy nghĩ,cân
nhắc và sau cùng
đã quyết định
cho dù điều đó
có thể dẫn đến
nhiều tai hại
cho cuộc sống
của ông: Không
đến trường ngày
hôm đó. Thật
không may cho
ông, vào khoảng
9, 10 giờ, tức
vào hai tiết dạy
của ông, một
tiếng nổ vang
dội bên phòng ăn
của nội trú, kế
cận phong dạy
của ông… Hẳn các
cháu có thể đoán
được việc gì xảy
ra cho ông: Ông
bị ông hiệu
trưởng người
Pháp gọi lên văn
phòng.
Ngay khi vừa bước vào phòng, ông đã bị hạch hỏi:
- Thầy có biết việc gì xảy ra chưa?
- Tôi biết. Tôi đã tự ý nghĩ dạy những giờ của tôi.
- Thầy có thấy thầy có lỗi?
- Tôi nhận điều đó, nhưng, thưa hiệu trưởng, thà rằng tôi
có lỗi với nhà
trường còn hơn
có lỗi với lịch
sử Việt Nam và
dân tộc Việt Nam
chúng tôi.
- Tại sao vậy?
- Bởi lẽ, lễ Hai Bà Trưng của Viêt Nam nào có khác gì lễ
Jeanne d’Arc của
nước Pháp!
- …
Các cháu, tưởng như cuộc đối thoại vắn vỏi ấy cứ tiếp tục,
căng thẳng, bế
tắc đến rạn nứt,
tai hại cho sự
nghiệp giảng dạy
của ông tại
trường Thiên Hữu.
Thế mà, quả là
một điều bất ngờ,
thú vị: Kết thúc
cuộc gặp gỡ hôm
đó là một sự cảm
thông thấu tình,
đạt lý. Ông hiệu
trưởng tiếp:
- Đúng, thầy vẫn còn là một thanh niên!
- Cám ơn hiệu trưởng, tôi không còn là một thanh niên nữa;
nhưng tôi đặt
nhiều kỳ vọng
vào tuổi trẻ của
mọi dân tộc…
Các cháu, quả thật tuổi trẻ là chặng đường quan trọng nhất
trong đời mỗi
con người. Nó là
giai đọan dự án
cũa cuộc sống;
nó giàu năng lực,
giàu khả năng;
nó giàu phẩm
chất; nó căng
nhựa sống. Tất
cả là một kho
tàng tinh thần
vô giá. Nhờ đó,
tuổi trẻ trong
quá trình phát
triển nhân cách
của mình, phát
hiện được cái
giá trị nội tại
và ý nghĩa đích
thực của cuộc
sống của mình.
Có thể các cháu
tự hỏi tại sao
lại như vậy? Vì,
đó lả lẽ sống,
là lý do để biết
sống, sống thật
chứ không phải
sống mà đang
chết dần. Bởi
thế, nếu tuổi
trẻ mà không có
cái gia tài tinh
thần đó, họăc
giả có mà không
được bồi bổ, bị
lãng quên, bị
phỉnh phờ, thì
qui luật tăng
tiến tòan diện
của xã hội con
người không còn
nữa. Bởi vậy,
khi mà cái gia
sản tinh thần
của tuổi trẻ
trong thời kỳ
đang được rèn
luyện, đang được
trau dồi, mà bất
kỳ một sự kiện
gì xảy ra làm
tổn thương cái
tài sản đó, thì
hẳn là một sự
xúc phạm cần
phải được đền bù
bằng một lọai
“trả thù” đặc
biệt – “trả thù”
mà vẫn ở trong
vòng đạo lý. Có
nghĩa là không
gậy tổn thất cho
một ai, cả tinh
thần lẫn thể xác.
Như ông đã nói ở đầu thư, ông muốn các cháu tiếp tục nghe
ông trình bày.
Các cháu biết!
Dù ông dạy ở
nhiều trường
nhưng ông vẫn
luôn ấp ủ mộng
ước xây dựng một
trừơng nữ trung
học tư thục
phỏng theo mô
hình và cấu trúc
riêng biệt. Thú
thật, ông nơm
nớp lo sợ ước
vọng của mình
khó thể hình
thành, chỉ là ảo
mộng. Bởi lẽ,
lúc bấy giờ ông
chỉ là một thầy
giáo tư thục,
không có một
quyền lực nào cả.
Quả thật là cô
đơn, làm sao mà
thực hiện được
mơ ước đó; thế
mà lạ lùng thay,
một trường nữ
trung học đã ra
đời: Trường nữ
trung học tư
thục Mê Linh.
Một thời gian
sau đó, trường
được hóan cải
thành trường hỗn
hợp cho cả nam
lẫn nữ, tương tự
các trường tư
thục ngày đó.
Học sinh nhập
học ngày càng
đông, thuộc đủ
mọi thành phần
xã hội. Trường
hỗn hợp Mê Linh
không từ khước
một phần tử nào,
dù là thuộc
thành phần bất
hảo, và sẵn sàng
đón nhận dư luận
từ mọi phía.
Một hôm, gần đến ngày tựu trường, linh mục hiệu trưởng
trường Thiên Hữu
đến thăm ông và
nói: “Tôi đến
thăm thầy và xin
thầy nhận thêm
lớp “troisìeme”,
thế cho linh mục
giáo sư Petit
Jean quá bận
việc. Luôn tiện,
xin bàn với thầy
về mấy vấn đề
liên quan đến
trường Mê Linh
đã thành một
trường hỗn hợp;
nhưng điều làm
tôi bâng khuâng
nhất qua dư luận
là cách thâu
nhận học sinh
quá dễ dàng,
tương phản hẳn
với các trường
khác. Tôi e rằng
sẽ có tai tiếng
cho trường và
chính cho thầy
trong cương vị
là hiệu trưởng;
vả lại cũng
phiền cho trường
Thiên Hữu, vì
thầy là một
trong những giáo
sư thực thụ của
trường. Mong
thầy thông cảm
và xét kỹ lại
vấn đề…”
Thật vậy, sau buổi nói chuyện, qua lời lẽ của linh mục hiệu
trưởng Thiên Hữu,
ông nhận thấy dư
luận không hiểu
được đường lối
của trường Mê
Linh. Trường bị
tổn thương và đó
chính là một vấn
đề cần làm sáng
tỏ. Ông đã tập
hợp một số học
sinh được coi
như là những
“phần tử bất hảo”
của nhà trường
để gần gũi hơn,
khi mà bản thân
họ cảm thấy rằng
họ là những
thành phần không
còn một ai muốn
tiếp xúc nữa.
- Hôm nay thầy tập hợp các con lại đây, trong phòng riêng
của thầy, để
trong khung cảnh
gia đình đầm ấm,
thầy nói với các
con vài điều
quan trọng đặc
biệt. Trước hết,
thầy cho các con
biết trường Mê
Linh bị dư luận
lên án là một
trường mà con em
học sinh là một
khối hỗn tạp, đủ
mọi thành phần,
tốt xấu lẫn lộn
được nhận vào
học rất bừa bãi
và quá dễ dàng.
Phỏng theo dư
luận, uy tín của
trường đã bị tổn
thương rất nhiều;
nhưng thành phần
bị xúc phạm nặng
nề nhất, chính
là các con; vì
lẽ các con là
những thanh niên
bị dư luận chối
bỏ, coi như
những người đang
sống mà đã chết
đi rồi. Nói đến
đây, thầy xót xa
trong lòng, lại
càng muốn khăng
khít với các con
hơn nữa bội phần.
Hiển nhiên, nào
P. nào G. nào V.
và tất cả có mặt
tại đây. Các con
là cái bia để dư
luận bắn vào,
thì há dễ trường
dửng dưng không
chịu đạn cùng
với các con sao?
Nhưng chỉ cúi
đầu chịu đạn
cũng không đủ.
Đó là khiếp
nhược, là không
dũng khí. Cần
phải chuẩn bị
một “lọai trả
thù”, để xứng
đáng là một con
người có nhân
cách. Nghĩa là
không phải bằng
hung khí, mà
bằng một thiện
chí sắt đá;
quyết tâm quay
ngược lại hướng
đi của mình. Đây,
rõ ràng là
trường Mê Linh
đã được xây dựng
theo: “Mô hình
và cấu trúc đặc
biệt”. Chính vì
sự riêng biệt đó
mà trường Mê
Linh là trường
của các con. Uy
tín của trường
còn hay mất, là
do các con lấy
lại hoặc đánh
mất đi – cái tài
sản vừa là tinh
thần, vừa thiêng
liêng của tuổi
trẻ nơi các con.
Đường lối giáo
dục của trường
thành công hay
thất bại, đó là
do dự án cho
tương lai của
các con sau buổi
gặp mặt giữa
thầy và trò
trong ngày hôm
nay. Giờ đây,
các con gắng nán
lại vài ba phút
để thầy bộc lộ
tâm tình với các
con.
- Trường rất tin cậy vào tuổi trẻ của các con, lứa tuổi
mạnh và giàu có,
nhưng lắm khi
cũng yếu đuối và
nghèo nàn. Bởi
lẽ chưa đủ để
ngăn chặn được
ngọn sóng bên
trong, cũng như
làn sóng bên
ngòai tràn ngập
vào; có sức phá
hủy, xói mòn
những gì tốt đẹp
thuộc về các
con.
- Trường có ý niệm rằng một cơ sở giáo dục không khác gì
một “bệnh viện”,
nhằm mục đích
săn sóc và cứu
chữa những bệnh
nhân, những
người bị khuyết
tật do bất kỳ
một hòan cảnh
nào đó.
- Trường học cũng ví như “chuồng chiên”, mục tử phải chăn
dắt đem về
chuồng những con
chiên lạc đàn
mất hướng.
- Cuối cùng, các con và trường, chúng ta phải có thái độ
nào ? Phần thầy,
thầy đề nghị các
con một điều:
Phải quyết tâm
rửa sạch con
người của mình;
phải quyết tâm
“trả thù” cho
bằng được; “trả
thù” bằng cách
tiêu diệt và
chiến thắng “cái
xấu” xưa nay đã
hủy họai con
người của các
con: Phải trọn
niềm chiến đấu
để chinh phục
lại những gì đã
mất; phải lột
xác quyết liệt
để từ con người
cũ, trở thành
con người mới.
Tới đây, thầy
trò chúng ta đã
đi đến điểm then
chốt trong buổi
gặp gỡ này,
Thành thật thầy
tin tưởng các
con rất nhiều
nhưng vẫn cứ
ngại không biết
niềm tin tưởng
ấy có thực hiện
được không? Bởi
lẽ: Cuộc chiến
tinh thành là
cuộc chiến vô
cùng gay go. Quả
thật, chỉ có sức
thiêng, một
quyền năng tuyệt
đối, một tình
thương tuyệt đối
mới giúp các con
vượt qua được
vòng vây yếu
đuối tội lỗi của
con người. Thầy
muốn giúp các
con thật nhiều,
mà nào thầy có
làm thay được gì
cho các con!
Chính các con
mới là chủ chốt
trong vấn đề cao
cả hệ trọng này.
Cuối cùng, thầy mong ước các con ghi nhớ những tâm sự giữa
thầy và trò
chúng ta ngày
hôm nay để sống
một cuộc đời
xứng đáng và có
ý nghĩa hơn…
Các cháu thân mến! Rồi sau đó bặt tin thầy trò, sau những
năm tháng dài
như thế kỷ, có
lẽ từ 1966 đến
năm 1977.
Một ngày kia không còn nhớ rõ, ông đi dạy về, đi bộ vào
buổi trưa; dưới
bầu trời nắng
chang chang của
xứ Quảng từ
trường Phan Châu
Trinh về Thanh
Hải. Bổng nhiên
có tiếng kêu:
“Thầy ơi? Ơi
thầy!” rồi tiếng
xe thắng lại:
- Thưa thầy, thầy nhớ con không? P. đây thầy, học trò cũ Mê
Linh của thầy
đây. Chao ôi!
Thầy gầy quá (mắt
rưng rưng chẳng).
- Thầy nhớ lắm! Sao? Con có gia đình chưa? Công việc làm ăn
ra sao?
- Dạ, con nói để thầy mừng cho con. Con làm ở sở điện; con
là thợ chuyên,
vợ con dạy
trường mẫu giáo,
hai đứa con
chúng con đã đi
học rất ngoan,
đạt được danh
hiệu “Chác ngoan
Bác Hồ”.
- Tốt quá, con vẫn nhớ trường cũ chứ? Bạn con còn đây không?
Hay tản mác khắp
nơi rồi?
- Thưa thầy, làm sao quên được thầy. Mà e thầy còn nhớ
chúng con nhiều
(nước mắt lại
chảy). Con nhớ
mãi trong tâm
trí con lời “gởi
gắm” của thầy
vào hôm đó, tại
phòng riêng của
thầy (nước mắt
lại chảy). Con
nói thầy mừng,
con là thợ
chuyên, đúc kết
cuối năm, con
được danh hiệu
“Tốt đạo đẹp đời”.
Đúng là “sống
lại” thầy hè!
Còn bạn con, một
đứa dạy cấp I
trường Võ Thị
Sáu, Thanh Bồ;
thằng G dạy cấp
III ở Hội An
- Thầy mừng cho các con. Nhớ chu tòan bổn phận và đừng lơ
là lẽ sống.
- Để con đưa thầy về.
- Được.
Các cháu thân mến, câu chuyện thực tế này cũng đáng để các
cháu ngừng lại
và suy niệm,
phải không?
Thân mến chào các cháu!
* Xin chân thành
cảm tạ Cô Trần
Thị Mộc Lan (ái
nữ của Thầy Trần
Văn Thông) đã
cho phép Khung
Trời Sao Mai
được phổ biến
tác phẩm "Thư
Cho Tuổi Hai
Mươi" trên trang
web
khungtroisaomai.
* Xin đừng copy
nếu không có sự
chấp thuận của
gia đình Thầy
Trần Văn Thông
và
KhungTroiSaoMai.
*
Xin chân thành
cảm tạ các bạn nhóm KTSM
Sài Gòn và Vùng
Phụ Cận:
Bùi Diệu, Bùi
Mai, Trần Việt
Hùng, Kim Văn
Tiến, Trần Thị
Trung đã đánh
máy lại tác phẩm
này.