|
Lá Thư Thứ Năm
Bài học văn minh
Các cháu thân
mến,
Có lẽ các cháu
thắc mắc không
hiểu sao từ Huế
vào đây, ông
sống ở Bảo Lộc
đã nhiều năm mà
hình như vẫn
không muốn thay
đổi. sao ông vẫn
bám lấy mảnh đấy
đó; nơi cuộc
sống nghèo khó,
nhưng con người
biết sống, cần
cù mà an lạc,
lam lũ mà văn
minh; vui sướng
có nhau; buồn
khổ cũng có nhau.
Từ “Văn minh” ở
đây có thể làm
các cháu bật
cười, nghĩ sao
ông có vẻ lẩn
thẩn đến thế?
Ông không trách
các cháu nếu như
các cháu chưa
chia sẻ được
cùng ông. Bởi
ông là người đã
từng trải qua
tuổi đời của các
cháu, ông hiểu
các cháu nhiều.
Có thể không sai
lắm về ý niệm
văn minh nơi các
cháu, mà cũng có
thể cả ở những
người lớn hơn
các cháu; thường
dựa vào bên
ngòai, vào sự
giàu sang, sung
mãn, dựa vào
trang phục, vào
văn bằng địa vị,
lối sống tường
cao cửa rộng;
cũng có khi dựa
vào các hành phi
trong quan hệ xã
hội. Nói chung
là lấy vật chất,
cách sống bên
ngòai đánh giá
văn minh. Tuổi
trẻ là tuổi năng
động, tuổi nhắm
tới tương lai,
tuổi ưa mới, đòi
hỏi tiến bộ. Bởi
thế chiếc áo năm
xưa đã cũ, đã
không vừa vặn
vào khổ người
của các cháu nữa
rồi, nên các
cháu đâu chịu
khóac vào người,
mà chỉ muốn vứt
bỏ đi! Phải là
cái mới, thời
trang, mang
“nhãn hiệu “
nước ngòai càng
hay, càng sang,
càng hợp thời
hơn!...Như vậy
cũng có phần
đúng trong cách
hiểu của các
cháu. Bởi lẽ
“Văn minh” là
một xã hội, từ
tình trạng thô
sơ vươn tới một
tình trạng cao
hơn về văn hóa,
cũng như về vật
chất. Ý niệm như
vậy, lâu nay đã
được chấp nhận;
làm sao lội được
dòng nước ngược
để rồi không
tuân theo quy
luật tự nhiên?
Thế nhưng, các
cháu nên hiểu
rằng: Trăm người
trăm ý, ngàn
người ngàn xu
hướng, muôn
người muôn nhận
định. Quả thật,
trong mọi lĩnh
vực, không có
điều gì là hòan
hảo, vẫn còn sai
sót, vẫn còn
khác biệt và hạn
chế, ngọai trừ
những gì đến từ
“ Thượng đế”.
Đến đây, ông
không muốn giảng
thuyết với các
cháu. Ông muốn
các cháu cùng
ông đi vào thực
tế đời sốg. ông
muốn kể cho các
cháu những điều
mà ông đã chứng
kiến, những thực
tế có thể đem
lại cho các cháu
ít nhiều kinh
nghiệm. Ông hy
vọng tất cả
những điều đó sẽ
giúp các cháu có
một cách suy
nghĩ và ý niệm
đúng đắn và đầy
đủ hơn.
Ông còn nhớ, hồi
ông qua Pháp,
mỗi sáng chủ
nhật, khi lễ
xong, ông ra
trước cửa nhà
thờ đợi người
nhà đến đón. Ông
đã chứng kiến
một cảnh diễn ra
trước mắt ông
nhiều lần. Từng
tốp người Pháp
tiếp nối đi ra,
họ là những
người giàu sang,
quyền quý, trang
phục cao cấp,
tướng mạo oai
phong. Họ từ
trong đi thẳng
đến những chiếc
xe bóng lộn, tài
xế nghiêng người
cung kính, cửa
mở sẵn. Sau khi
họ bước hẳn vào
bên trong xe,
cửa đóng sập lại,
rồi xe vụt chạy
đi. Mặc cho
những người đồng
hương nghèo nàn,
cơ cực, sắp hàng
dọc theo bờ
tường, trước cửa
chính nhà thờ,
đôi mắt ngước
lên khẩn cầu,
hai tay đưa ra
trước, mong có
một chút gì để
bỏ vào miệng
sống qua ngày.
Kệ thây, những
người giàu sang
đó cứ thản nhiên
đi qua, mắt họ
không dùng để
nhìn những cảnh
tượng đau đớn,
khốn cùng; họ
vẫn cười cười,
nói nói, chẳng
có chút bận lòng
trắc ẩn. Quả
thật là một cảnh
tương phản, một
cảnh đối nghịch
giữa sự sống bên
ngòai và sự sống
bên trong của
con người khốn
khổ kia vẫn còn
đó. Một trong
những lần đó,
ông đã nhình
thấy một bà già
có vẻ như người
Á châu, tiếp đó
hai vợ chồng
đứng tuổi, theo
sau là hai người
con. Sau một lát
trao đổi mới
biết đó là một
gia đình người
Việt qua pháp đã
lâu, ăn mặc rất
bình thường, vì
đã mấy năm qua
họ không có việc
làm. Các cháu
biết không? Thất
nghiệp là tình
trạng khốn khó
của nhiều người
Việt ở nước
ngòai…! Thế
nhưng, trước khi
về, hình như họ
bàn bạc, trao
đổi với nhau
những gì nhẳng
hiểu, rồi nhẹ
nhàng đặt vài
đồng tiền vào
tay những người
không cùng Tổ
quốc… trước khi
bước đi, rồi
biến mất ở khúc
quanh đường… Đọc
đến đây, chắc
các cháu tự hỏi:
“Còn ông mình
thì sao? Ông có
làm như vậy
không?” Hôm đó,
ông chẳng có gì
trong túi, muốn
làm như thế mà
đành chịu. Nhưng
ông rất hãnh
diện về tình yêu
cao cả, lối sống
đầy tình người
của anh em đồng
hương, thậm chí
cả những người
đang lặn lội tìm
sự sống ở một
đất nước có
tiếng cực kỳ là
văn minh.
Các cháu biết
không, suốt thời
gian ở Pháp, ông
đã chứng kiến
cảnh khổ đau,
bần cùng đến tột
độ. Ông cũng
thấy không ít
những cảnh tương
phản; thấy lối
sống xa hoa,
phóng đãng của
xã hội giàu
sang, đêm đêm ăn
chơi, ném tiền
qua cửa sổ. Ông
không thể hiểu
tại sao những
con người đó
phơi bày một lối
sống nhỏ nhen,
man rợ, chứa
giấu một trái
tim khô cằn, một
thái độ thờ ơ,
một sự dửng dưng
độc ác trước
những cơ cực lầm
than, thiếu ăn,
thiếu mặc, thiếu
cả tình máu thịt
đồng bào.
Buồn cười thật,
một hôm ông đi
Paris vời cậu P.
Lúc đó đã hơn 10
giờ đêm, cậu còn
đưa ông đến phố
Pidalle để ông
biết chút gì gọi
là cuộc sống về
đêm của thành
phố hoa lệ. Ở
đây, đúng là
chốn ăn chơi,
nào là rạp chiếu
bóng, hàng tạp
hóa, đầy ắp các
xa xỉ phẩm, nào
là quán cà phê,
nào là quán rượu
tràn ngập ánh
sáng, tấp nập
khách ra vào, đủ
màu da. Đặc biệt
tràn ngập các cô
vũ nữ, gái làm
tiền, ăn mặc hở
hang diêm dúa;
mà lạ, hình như
họ đã quen sống
“tự nhiên”. Còn
ông thì như
không thể nào
quen với cảnh
ngộ trước mắt.
-Thôi, về con hè!
-Dạ, gì thế ba,
ba mệt à?
-Không, ba muốn
xuống xe một lát
thôi.
Xe ông chạy chậm
lại, vì sóng
người, dòng xe
lũ lượt cứ nối
tiếp nhau; người
về, kẻ đến suốt
đêm. Gần đến
sông Seine, ông
vẳng nghe từ gầm
cầu tiếng kêu
than thống thiết:
“Xót thương tôi
với!” Lúc đó, đã
gần nửa đêm,
trong cái giá
lạnh kinh khủng
của đầu đông.
Xuống xe, ông
đến gần, thấy
một ông già, run
rẩy nằm tựa lưng
vào tường đá gầm
cầu. Rồi một
bóng đen cùng
đến gần; ông
nhận ra bà già
người châu Phi;
bà muốn cởi
chiếc áo ấm đang
mặc trên người;
ngập ngừng một
lát, bà lấy
chiếc áo cao cổ
đang vắt trên
tay, rồi cúi
xuống, cẩn thận,
nhẹ nhàng mặc
vào cho ông già
“da trắng đó”…
Có lẽ thư cũng
đã khá dài. Ông
chỉ mong sao
những sự việc
ông kể cho các
cháu trong thư
này mở ra cho
các cháu một lối
suy nghĩ, phân
định rõ ràng và
đầy đủ điều
thường gọi là
văn minh.
Thân mến chào
các cháu!
* Xin chân thành
cảm tạ Cô Trần
Thị Mộc Lan (ái
nữ của Thầy Trần
Văn Thông) đã
cho phép Khung
Trời Sao Mai
được phổ biến
tác phẩm "Thư
Cho Tuổi Hai
Mươi" trên trang
web
khungtroisaomai.
* Xin đừng copy
nếu không có sự
chấp thuận của
gia đình Thầy
Trần Văn Thông
và
KhungTroiSaoMai.
*
Xin chân thành
cảm tạ các bạn nhóm KTSM
Sài Gòn và Vùng
Phụ Cận:
Bùi Diệu, Bùi
Mai, Trần Việt
Hùng, Kim Văn
Tiến, Trần Thị
Trung đã đánh
máy lại tác phẩm
này.
|