|
Lá Thư Thứ
Hai
Vấn đề là sống
như thế nào?
Các cháu thân mến !
Các cháu cũng nên biết rằng: Mỗi người trong giáo giới như
ông đến với nghề
bằng con đường
riêng. Tuy nhiên,
dù sớm hay muộn,
người thầy gắn
bó với nghề thế
nào cũng nhận ra
rằng đây là một
nghề cao quý
trong những nghề
cao quý. Cao quý
ở nghề dạy học
là coi trọng đời
sống tinh thần.
Có thể cuộc sống
của bản thân và
gia đình nhà
giáo còn nghèo
khó, thế nhưng
họ luôn sống
thanh bạch trong
niềm tự hào thầm
lặng về đời sống
thanh bạch của
mình. Nửa thế kỷ
sống thác với
nghề dạy học,
ông càng thấm
thía một điều:
Chính đặc điểm
nghề nghiệp của
người thầy lại
là chiếc chìa
khóa thần kỳ mở
ra những cánh
cửa tuổi thơ,
tạo ra mối hòa
đồng giữa thầy –
trò, giữa thầy
trò với nhân
quần, xã hội. Và
nếu người thầy
là nhân vật
trung tâm của
nhà trường thì
hiệu quả của
việc đào luyện
con người lại
tuỳ thuộc vào
thế giới tinh
thần của người
thầy phát triển
tới đâu, nằm ở
thang bậc nào.
Ông đến với nghề dạy học một cách tự nhiên như không còn
cách lựa chọn
nào khác. Dường
như Tạo Hóa sinh
ra ông, ra cái
thân xác này,
cái linh hồn này
là để dành cho
công việc, sứ
mệnh ấy – công
việc của một
người thầy giáo.
Nhìn lại cuộc
đời dạy học
thăng trầm của
mình có thể nói
vui ít, buồn
nhiều. Song
những niềm vui,
những niềm hạnh
phúc hiếm hoi ấy
lại có sức quyến
rũ lạ kỳ, bởi đó
là niềm vui,
niềm hạnh phúc
tinh thần cao
quý. Nó khác
biệt, thậm chí
đối lập với sự
đam mê vật chất,
đối lập như nước
với lửa, như ánh
sáng với bóng
tối.
Có thể mỗi người có một niềm tin khác nhau. Ông có niềm tin
vào đấng toàn
năng, ông tâm
niệm sống là phó
thác - Phải tin,
tin thật lòng,
tin hết mình thì
hành động của
mình mới được
tiếp thêm sức
mạnh tinh thần
thiêng liêng và
hữu hiệu. Phải
chăng từ trong
bản chất sâu xa
của nghề của
nghề dạy học đã
có sự hài hòa tự
tin. Nói vậy, vì
ông nhớ lại một
chuyện xảy ra đã
từ lâu, chính
ông được tận mắt
chứng kiến, đã
gieo vào tuổi
thơ ông một ấn
tượng khó phai
mờ - nó ăn sâu
vào ký ức của
ông đến nổi cho
đến nay, đã 90
năm trôi qua, hễ
mỗi lần có dịp
nhớ lại là mọi
chuyện lại hiện
lên, rõ mồn một
:
Năm ấy, ông khoảng 14 tuổi. Ông sống ở làng Vạn Xuân (huyện
Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên, Huế),
quê ngoại ông.
Trong làng có
gia đình ông H.P
theo đạo Thiên
Chúa và là một
trong ba người
giàu có bậc nhất
ở Huế lúc bấy
giờ. Thực ra,
ông H.P xuất
thân từ một gia
đình nghèo khó,
chuyên làm thuê
cuốc mướn. Tình
cờ trong một lần
cuốc đất ông
chạm phải một hũ
vàng thoi. Theo
suy đoán, có lẽ
do những người
chạy nạn vào
thời Tây Sơn đã
bỏ lại. Từ đó,
ông H.P trở
thành người giàu
có nổi tiếng
khắp vùng. Tuy
nhiều của lắm
tiền nhưng ông
H.P lại là người
mù chữ, không
biết đọc biết
viết, ngay chữ
ký cũng không
biết. Mọi giấy
tờ đều phải điểm
chỉ như bao kẻ
mù chữ khác.
Cũng may ông H.P
có một người
giúp việc khá
thong thạo và
đặc biệt rất
trung thành. Do
vậy mà mọi
chuyện giao dịch
làm ăn đều thuận
buồm xuôi gió.
Song việc nuôi
dạy con cái thì
ông ta tỏ ra bất
lực. Ông H.P
đông con mà phần
lớn là những kẻ
ăn tàn phá hại.
Có lẽ ông ta
dành nhiều tình
thương cho cô
con gái bất hạnh
tên là H.T.H. Cô
ấy lớn hơn ông
của các cháu đây
chừng vài ba
tuổi. Cô bị bệnh
đậu mùa từ lúc
lên mười, mặt rỗ
chằng, rỗ chịt,
nên đã lớn tuổi
mà không chồng.
Cô đáp lại tình
thương của cha
bằng một tấm
lòng hiếu thảo
hết mực.
Giờ phút hấp hối của ông H.P thật thê thảm. Nhưng ai mà
chẳng trãi qua
phút giây ấy
phải không các
cháu? Cái chết
đau xót thật,
như đó là lẽ
thường tình,
không ai tránh
khỏi. Vấn đề là
chết ra sao?
Song điều này
lại lệ thuộc vào
vấn đề sống ra
sao? Cai chết
thê thảm dằn vặt,
ray rứt không
nhắm mắt nổi,
hay cái chết thư
thái như bước
vào giấc ngủ vào
cõi trường sinh?
Tất cả đều tùy
thuộc vào sự
hiện hữu của con
người trong suốt
cuộc đời mình.
Theo ông (tác giả), cái chết của ông H.P là một cái chết
thê thảm, mặc
dầu ông ta giàu
nứt đố đổ vách.
Giá có cách nào
đem của cải theo
mình xuống mồ!
Và ông đã chết,
đã ra đi khỏi
trần gian xem ra
không được ơn
chết lành. Cha
xứ đến làm phép
xức dầu cho ông
ta, lúc ông ta
hãy còn tỉnh,
mặc dầu cái chết
đang bò lần từ
chân lên. Có
điều lạ là không
rõ vì sao ông ta
nằm mà tay mặt
như đang nắm
chặt một vật gì
ở dưới lưng ông.
Cha xứ nói điều
gì ông ta cũng
gật đầu, nhưng
hỏi vì sao đặt
tay dưới lưng
thì ông ta không
nói, bảo kéo tay
ra thì ông không
tuân theo. Con
cái quay quần
chung quanh ông,
con trai, con
gái, con dâu,
con rể đủ mặt.
Cha xứ yêu cầu
họ lấy tay ông
ta ra đặt trước
ngực cho tự
nhiên (Chết cũng
cần nằm cho thật
tự nhiên)! Nhưng
không một ai dám
làm. Tới khi
gương mặt ông
H.P gần như cứng
đờ, cha xứ buộc
lòng phải rút
tay ông ta ra.
Bàn tay ông ta
hình như siết
chặt hơn. Sức đã
tàn, lực đã kiệt,
nhưng tay vẫn
khư khư giữ chặt
một vật gì. Có
lẽ tất cả sức
lực còn lại ông
ta dồn cả vào
nơi bàn tay ấy
cho đến khi
tròng mắt đứng
lại. Cha xứ cẩn
trọng gở tay ông
tar a. Đó là
chiếc chìa khóa
két sắt mà lúc
còn sống không
khi nào rời khỏi
người ông ta. Cả
đám con cái cùng
“Ồ “ lên một
tiếng, không rõ
là vui hay buồn.
Một cảnh hỗn
lọan tiếp theo
làm cha xứ bở
ngở kinh hòang.
Người đầu tiên
nhận ra vật quý
bí hiểm đó là cô
H. Cô vồ lấy
chiếc chìa khóa
trong tay vị
linh mục và chạy
ào lên gác. Thế
là cả đám anh em
trai gái, lớn
nhỏ như bừng
tỉnh, cùng chạy
ào theo. Cảnh
vật lộn ấu đả
diễn ra trên gác,
mà bên dưới là
thi thể của
người cha mắt
còn mở trừng
trừng. Cha xứ
sững người kinh
ngạc. Vì tiền
của người ta có
thể xâu xé, chém
giết lẫn nhau.
Đến giờ cha xứ
mới được chứng
kiến tận mắt
cảnh tượng đau
lòng ấy. Ôi!
Ngày tận thế sắp
đến chăng? Không
còn một người
nào ở cạnh người
chết, cha xứ
đành phải yêu
cầu xóm giềng
xung quanh đến
vuốt mắt cho ông
H.P lần cuối.
Rồi lau người
cho ông.
Thật ghê gớm thay sức mạnh của đồng tiền. Người ta cần ăn
để mà sống, chớ
đâu phải sống để
mà ăn. Chớ nên
xem thường lợi
ích vật chất mà
cũng xin đừng
tuyệt đối hóa
vai trò của nó.
Bởi một điều
giản dị: Riêng
việc thỏa mãn
những nhu cầu
vật chất thì con
người đâu có gì
hơn con vật.
Thật đáng ghê sợ
những kẻ vụ lợi,
tham lam bạc
vàng, nặng “phần
xác” mà coi nhẹ
“phần hồn”. Đáng
ghê sợ, vì những
kẻ chuộng lợi
thường là những
kẻ mưu mô, thủ
đọan, mất nhân
cách, phẩm hạnh.
Có thể nhất thời
chúng đạt được
mục đích nào đó,
hãnh diện vinh
váo với đời.
Nhưng luật đời
đã định rõ:”ác
giả ác báo”.
Ông mong câu chuyện mà ông vừa kể có thể là một bài học để
các cháu suy
nghĩ.
Thân mến chào các cháu.
* Xin chân thành
cảm tạ Cô Trần
Thị Mộc Lan (ái
nữ của Thầy Trần
Văn Thông) đã
cho phép Khung
Trời Sao Mai
được phổ biến
tác phẩm "Thư
Cho Tuổi Hai
Mươi" trên trang
web
khungtroisaomai.
* Xin đừng copy
nếu không có sự
chấp thuận của
gia đình Thầy
Trần Văn Thông
và
KhungTroiSaoMai.
*
Xin chân thành
cảm tạ các bạn nhóm KTSM
Sài Gòn và Vùng
Phụ Cận:
Bùi Diệu, Bùi
Mai, Trần Việt
Hùng, Kim Văn
Tiến, Trần Thị
Trung đã đánh
máy lại tác phẩm
này.
|