|
Lá Thư Thứ Mười
Bốn:
Như Dòng Sông
Trôi Đi
Các cháu thân
mến,
Trong thư hôm
trước, ông đã
chuyện trò cùng
các cháu về một
dòng sông. Dòng
sông lặng lẽ
chạy ngang qua
tầm mắt các cháu,
có khi no chảy
giữa đôi bờ
chêng vênh, lởm
chởm vách đá,
qua những vùng
hẻo lánh trơ
trụi, cũng có
khi qua những bờ
bến, cỏ cây, qua
những cánh đồng
phì nhiêu, màu
sắc mát dịu, rồi…
mất hút đi đâu,
chẳng còn ai
thấy nữa. Hỏi
rằng sông đi về
đâu, từ đâu sông
chảy qua mọi
vùng? Sông hiện
hữu để làm gì,
sông biết gì đâu
mà trả lời! Sông
cũng như viên
gạch, cối đá,
như gò nổng ở
làng quê, như
đường sá, lâu
đài ở phố phường.
Nào sông có biết
gì! Tất cả đó là
những vật vô
tri, vô giác nào
ai biết được?
Các cháu ơi,
dòng đời cũng
như dòng sông,
có những nét
tương đồng.
Nhưng nếu đặt
cho con người
những câu hỏi
như trên, nhờ lý
trí, nhờ trí tuệ,
tư duy – là đặc
trưng của con
người – con
người sẽ giai
đáp rành mạch.
Một bé sơ sinh
ra đời, lúc lớn
lên biết mình
được cha mẹ sinh
ra. Cha mẹ của
bé sơ sinh từ
thuở bé đến
trưởng thành
cũng biết rằng
chính cha mẹ (tức
là ông bà của
các cháu hiện
nay) đã đem mình
ra ánh sáng, với
tính cách là
người cộng tác
với Đấng Toàn
Năng. Như vậy,
các cháu cũng
như mọi người kể
từ đầu cho đến
cuối lịch sử
loài người, phải
nhận thấy nguồn
gốc của mình cả
trên bình diện
trần tục và trên
bình diện siêu
nhiên. Ánh sáng
của lý trí cũng
góp phần không
nhỏ giúp đạt đến
chân lý đó. Uống
nước nhớ nguồn.
Như thế các cháu
có thêm một kiến
thức về con
người vô cùng
quan trọng, đó
là lai lịch, một
điểm trong “gia
phả” con người.
“Người phải nhận
ra nguồn gốc của
mình” để rồi như
dòng sông cuối
cùng phải đổ ra
hòa nhập cùng
biển cả. Con
người, khi cáo
chung thế cuộc,
hòa tan vào tình
yêu hải hà của
Đấng Toàn Năng,
đó là nguồn gốc
và cùng đích của
mỗi người.
Đến đây, các
cháu đã nhận
thấy rõ những
nét giống nhau
giữa dòng sông
và đời người.
Người và sông
phải từ đâu mà
đến, rồi phải đi
về đâu. Vấn đề
quan trọng thế,
mà nào mấy ai
quan tâm. Khi
xét về sự sống
trong toàn bộ
hoạt động của
sông và người,
thì đột nhiên
hiện ra một nét
tương phản rõ
rệt,như đen với
trắng . Những
hoạt động của
dòng sông, cho
dù tốt hay xấu,
hữu ích hay tai
hại, đều nằm
trong vô thức.
Bởi thế dòng
sông chẳng thể
tự biết mình là
gì cả, chẳng
biết mình hiện
hữu hay không,
bởi lẽ dòng sông
là vật vô tri vô
giác, không thể
nào đạt đến vận
mệnh con người.
Con người là
loài thọ sinh
được lựa chọn,
được dựng tạo
chính cho mình.
Con người có lý
trí, có trí tuệ,
có suy nghí, có
lương tri tức là
khả năng nhận rõ
những điều
đúng-sai,
xấu-tốt để thực
hiện được những
gì phù hợp cho
một cuộc sống
xứng đáng. Bởi
vậy, con người
phải sống có ý
thức. Điều đó có
nghĩa là con
người phải tìm
hiểu tại sao
mình sống và nên
sống cách nào và
đừng sống cách
nào?
- Trong phạm vi
gia đình và xã
hội, sống chỉ
biết có mình mà
không quan tâm
đến người khác,
là sống không có
ý thức, sống ích
kỷ.
- Tự cho mình là
trung tâm. Mọi
việc, mọi suy
nghĩ phải qui về
chính mình. Đó
là cuộc sống
không có ý thức,
một cuộc sống vị
kỷ, tự ngã trung
tâm(égocentrisme).
- Sống với đầu
óc vụ lợi, thế
là sống không có
ý thức, một cuộc
sống thực dụng.
- Sống chỉ biết
làm tiền, tích
trữ, không biết
san sẻ, thế là
sống không có ý
thức, sống cuộc
tham lam, thấp
kém.
- Sống phóng
túng, hưởng thụ,
chạy theo danh
vọng, đua đòi,
thế là sống
không có ý thức,
sống cuộc sống
xác thịt, phiêu
lưu.
- Sống kiêu ngạo,
trọng giàu khinh
nghèo, sống
trong si mê
thành kiến sai
lầm, nuôi hận
thù trong lòng,
không tha thứ,
mải miết theo
cuộc sống phù su,
sống tạm thời,
coi thường những
giá trị đích
thực vĩnh cửu,
thế là sống
không có ý thức,
sống mà như đã
chết rồi.
- Sống vô trách
nhiệm, bỏ qua
bổn phận, không
có tình yêu chân
thật, không bận
lòng tìm cho
được lẽ sống,
thì quả thật đó
là một cụôc sống
hoàn toàn vô
thức, một cuộc
sống thức dụng.
Há con người
vượt trội trên
tất cả các loài,
đựơc trang bị
rất nhiều kiến
thức nhờ có lý
trí và suy tư,
nhờ có kinh
nghiệm thu thập
được suốt những
đoạn đường đã
qua mà khọng đạt
được mục đích
xác thực của
cuộc đời, quả
thật là phi lý
và đáng tiếc!
Ở đây, các cháu
hiểu thêm gia
phả của mỗi
người trực tiếp
liên hệ đến
chính mình và
ảnh hưởng mãnh
liệt đến gia
đình và xã hội.
Đó là thân thế,
là cuộc đời
riêng của mỗi
một con người
trên đời này.
Ông muốn nhắc
các cháu nhận ra
rằng người ta
thường dùng danh
từ ghép “thân
thế” để nói về
những bậc tái
trí vĩ đại,
những triết gia
lỗi lạc, những
vị anh hùng,
những nhà khoa
học cũng như
những nghệ sĩ,
những nhà văn
nhà thơ nổi
tiếng. Quả thật
đó là một điều
chí tình chí lý.
Nhưng mấy khi
cụm từ “thân thế”
được dùng để nói
về một nông dân
suốt đời tay lấm
chân bùn để sản
xuất hạt lúa
nuôi người, để
nói về một chị
làm vệ sinh quét
sạch đường cho
người qua lại,
đế nói về cô gái
phục vụ mầm non,
một nữ bác sĩ
già suốt đời gắn
liền với những
thân phận đau
khổ vì bệnh tật,
cũng như những
nữ tu già có trẻ
có, cống hiến
đời mình cho
những người xấu
số bị bệnh tật
dày vò, không
được chung sống
với cộng đồng.
Những mẫu người
như thế có mấy
ai lưu ý đến?
Phải chăng vì
con người thường
coi nhẹ sức mạnh
của sự sống bên
trong mà nghiêng
về sự sống bên
ngoài? Phương
hướng suy nghĩ,
cách xem xét,
nhận thức như
vậy cũng có phần
không trọn vẹn.
Mỗi con người
khi sinh ra đời
thì phải sống,
bao gồm toàn bộ
hiện tượng thuộc
về sự sống. Nói
đến sự sống là
nói đến sự dinh
dưỡng nuôi cơ
thể, hơn nữa còn
phải nuôi dưỡng
khả năng, đức
tính liên hệ
trực tiếp đến
trí tuệ và tâm
hồn của con
người. Nói đến
sự sống là nói
đến cách hấp thụ
chất bổ dưỡng để
cơ thể phát
triển tốt và đầy
đủ cũng chưa đủ.
Phải biết thu
nhận và tiêu hóa
tri thức, bồi
dưỡng để tâm hồn
ngày càng có khả
năng hướng thiện
hơn. Nói đến sự
sống là nói đến
sự tăng trưởng,
sự lớn lên điều
hòa giữa hình
hài với tâm hồn.
Nói đến sự sống
là nói đến khía
cạnh sinh sản để
tiếp nối thế hệ
loài người trong
tinh thần tương
thân tương ái,
giúp đỡ, phục vụ,
san sẻ cùng nhau
để tiến thẳng về
đích của chân lý
cuối cùng, tức
là sự vĩnh cửu
trong tình yêu.
Nếu ai ai đều có
một cuộc sống
dồi dào như thế,
thì sự sống của
con người mới
tốt đẹp, cao cả,
vinh quang, đồng
thời là một sức
mạnh thôi thúc
con người tự hồi
phục, giữa một
xã hội loài
người xem chừng
rất mạnh mà kỳ
thực là yếu, rất
giàu mà thực
chất nghèo nàn,
thúc thủ trước
áp lực của cuộc
sống quá nặng về
vật chất mà quá
nhẹ về tinh thần.
Sự mất thăng
bằng ấy là nguồn
mạch của bao
nhiêu lỗi lầm,
tệ nạn. Vượt qua
được những trở
ngại đó, con
người sẽ xây
dựng đựơc bản
thân mình, và từ
đó xây dựng được
bản thân mình,
và từ đó xây
dựng gia đình
mình tốt đẹp hơn,
và cũng nhờ đó
mọi gia đình sẽ
tốt đẹp hơn, thì
làm gì mà không
xây dựng được
một xã hội bác
ái, công bằng,
trong đó mỗi
người có được
một cuộc sống
tốt, một thân
thế, một sự
nghiệp vững vàng,
tuy rằng có
những gì riêng
tư, nhưng cũng
quy về nhũng
nguyên tắc của
mẫu chung. Có
hơn có thua, có
công bằng là do
cách sống, bởi
lẽ cách sống là
cơ sở trên đó
tạo dựng thân
thể và sự nghiệp.
Tất cả điều đó
nằm trong “gia
phả” của mỗi
người, mỗi gia
tộc, của mỗi dân
tộc và rộng hơn
là tòan nhân
loại.
Các cháu thân
mến, các cháu đã
được giáo dục
trong gia đình,
ở nhà trường,
các cháu đã gom
góp nhiều kiến
thức cần thiết
giúp các cháu
biết nghĩ suy,
biết lựa chọn để
sống có trách
nhiệm, có tiến
bộ hơn, đem lợi
ích nhiều hơn
nữa cho gia đình
riêng nay mai
của các cháu.
Các cháu thường
nghe nói
rằng:”Con hơn
cha là nhà có
phúc”. Nhưng hơn
cách nào thì gia
đình có phúc?
Hơn cách nào thì
gia đình vô phúc?
Cùng một lẽ đó,
giới trẻ ngày
nay, trong đó có
các cháu, hơn
cách nào thì Dân
tộc, Tổ quốc có
phúc? Hơn cách
nào thì Dân tộc,
Tổ quốc mang họa?
Đó là tùy các
cháu có một cuộc
sống phù hợp với
những điều đã
nêu trên hoặc có
một lối sống
phản lại. Các
cháu cũng nghe
rằng:”Khoa học
mà không lương
tri chỉ là sự
phá hủy, tác hại
cho loài người”.
Các cháu nghĩ
sao về nhận xét
đó? Chỉ có lịch
sử mới giúp cho
các cháu thấu
đáo được sự thật
qua nhận xét
trên.
Các cháu đã học
nhiều về lịch sử
nước nhà và cũng
hiểu biết không
ít về lịch sử
thế giới. Chắc
chắn các cháu
còn nhớ và thấm
thía những hậu
quả không lường
của thế chiến
thứ nhất giữa
Đức – Pháp. Có
lẽ các cháu cũng
không quên được
những tàn ác
khốc liệt mà thế
chiến thứ hai
giữa phe Trục (gồm
3 nước: Đức – Ý-
Nhật) và lực
lượng Đồng minh
đã để lại trong
trí nhớ loài
người, hầu như
để con người
nghĩ suy và cảnh
tỉnh. Khôi hài
thật! Con người
khó mà cảnh tỉnh
được, bởi lẽ
đang trong mê
mải sức mạnh của
khoa học và vì
thế đã vượt qua
quỹ đạo của chân
lý đích thực.
Con người đã
đánh mất những
giá trị thiêng
liêng xuất phát
từ tâm hồn mà
chẳng hề hay
biết; khốn nỗi,
chính cái sức
mạnh mà con
người tự hào đã
tìm được trong
khoa học qua
những khí giới
giết người, đã
quay lưng lại
chính mình… Cuốc
sống phi nghĩa,
phi nhân đạo của
một Adolf
Hitler, một
Mussolini… đã
đưa họ đến một
thân thế, sự
nghiệp tan vỡ bi
đát. Thế mà từ
đó con người vẫn
còn phải gánh
chịu biết bao
đau khổ, tan tác
do chiến tranh
gây nên. Vụ
Kosovo còn đó,
sức ép bạo lực
Mỹ - NATO trên
thân phận Nam Tư
cũng còn đó.
Hàng trăm ngàn
người chết vô
tội, oan ức, bao
nhiêu gia đình
tan nát, bơ vơc
cũng còn đó, và
có những cuộc
xung đột biến
loạn Israel –
Palestine, Ấn Độ
- Pakistan… Đúng
là con người đã
mất sự sống thật
rồi. Qua chiến
tranh nói chung
và chiến tranh ờ
Việt Nam nói
riêng suốt 30
năm trường.
Quả thật, khoa
học mà không có
lương tri thì
chỉ là hủy hoại,
đổ nát. Bởi vậy,
các cháu ạ, muốn
có một cuộc sống
đích thực, hạnh
phúc, văn minh,
không thể chỉ
dựa vào những
khối óc mà còn
phải dựa vào tâm
hồn. Sự kết hợp
giữa lý trí và
đức tin là tối
cần, bởi lẽ con
người cần phải
có cuộc sống đầy
đủ, nghĩa là có
lẽ sống để biện
minh cho sự hiện
hữu của mình,
tạo dựng nên một
thân thế và một
sự nghiệp đáng
giá.
Các cháu hãy
nhìn thẳng về
phía trước, cố
gắng sống với
niềm tin và xứng
đáng với ý nghĩa
làm người để ông
đây được an ủi
và yên tâm.
Thân mến chào
các cháu!
* Xin chân thành
cảm tạ Cô Trần
Thị Mộc Lan (ái
nữ của Thầy Trần
Văn Thông) đã
cho phép Khung
Trời Sao Mai
được phổ biến
tác phẩm "Thư
Cho Tuổi Hai
Mươi" trên trang
web
khungtroisaomai.
* Xin đừng copy
nếu không có sự
chấp thuận của
gia đình Thầy
Trần Văn Thông
và
KhungTroiSaoMai.
*
Xin chân thành
cảm tạ các bạn nhóm KTSM
Sài Gòn và Vùng
Phụ Cận:
Bùi Diệu, Bùi
Mai, Trần Việt
Hùng, Kim Văn
Tiến, Trần Thị
Trung đã đánh
máy lại tác phẩm
này.
|