|
Lá thư thứ nhất
Con thuyền giữa
biển khơi
Các cháu thương
mến,
Các cháu có biết
không, con người
sống trên đời
cũng như con
thuyền lướt trên
dòng sông, có
khi xuôi buồm
thuận gió, cũng
có khi lênh đênh,
tơi bời trước
bảo táp phong ba
: Đã hiện hữu
trên đời, ví như
cơn mưa hoa hồng
phủ đầy mặt đất,
hoặc giả như một
tấm vải dệt bằng
những thực tế mà
chẳng ai mong
chờ. Tất nhiên,
đó là những điều
kiện để con
người khẳng định
vai trò làm chủ
thiên nhiên của
mình. Song điều
quan trọng là
phải nhận ra
được từ đâu con
người đã hiện
hữu, hiện hữu để
làm gì và bằng
cách nào, rồi sẽ
đi về đâu… Thế
thì, nào có khác
gì con thuyền
kia đã biết ra
đi từ bến nào và
bến nào thuyền
phải đến. Thật
ngộ nghĩnh! Con
thuyền, vật vô
tri, vô giác sao
mà hiểu biết
được những điều
quan trọng ? hẳn
thật, hồn của
con thuyền,
chính là người
lái đằng sau và
người chèo đằng
trước… Không may
“vụng chèo,
yếu chống ",
mái chèo lại gảy
vỡ, thuyền mất
hướng, bất lực
trước sóng to
gió lớn, đành để
mặc cho nước
cuồn cuộn lôi
bạt đi…! Thực
vậy có nhiều nét
tương đồng giữa
con thuyền trên
dòng sông và con
người trên cõi
đời. Ở đây suy
niệm cách diễn
đạt ngắn gọn mà
súc tích của một
nhà tư tưởng về
bản chất của con
người: “Con
người là một cây
sậy biết suy tư”(1).
Quả thật, nơi
con người, suy
tư là chính yếu.
Khi không còn
suy tư chính xác
nữa thì con
người chỉa là
cái vỏ cây không
hồn, cái xác
thấp kém hơn tất
cả mọi thứ trên
đời. Về mặt cấu
trúc, con người
là một tổng thể
mà hình hài và
tâm linh là hai
thành phần cấu
tạo nên. Thật
tình, con người
qua hình hài
mong manh, yếu
ớt liệu có cầm
cự nổi một làn
gió độc, một vi
khuẩn xâm nhập
vào đến phải sụp
đổ? Thế mà con
người vẫn là bá
chủ thiên nhiên,
vượt lên mọi
giới, nhờ cái
sức mạnh của bộ
óc suy tư, đặc
trưng của con
người. Nhưng lắm
khi cũng vì cái
đặc quyền đó mà
con người vấp
phải bao nhiêu
lổi lầm, chỉ vì
“vụng chèo, yếu
chống”. Cùng với
con thuyền mất
hướng, thuyền
người có nguy cơ
chìm sâu trong
going tố của
biển đời. Có
nghĩa là, khi
con người do
những hiện thực
chủ quan hoặc
khách quan – suy
tư sai đi một
bước, không phân
định trái phải,
không thấu đáo
trách nhiệm đối
với chính mình,
đối với cộng
đồng thì tất yếu
sẽ dồn dập đến
bao nhiêu tan vở,
khó lường! Cùng
hòa hợp với bốn
bể năm châu,
chúng ta tiến
vào thế kỷ 21
một cách hào
hứng say sưa
tiếp nhận một
cuộc sống giàu
có, văn minh dựa
trên sự phát
triển tột đỉnh
của vật chất,
thì cũng nên
tỉnh táo để nhận
ra rằng trong
mọi phạm vi hoạt
động, sự quá độ,
lệch ngoài khuôn
khổ cái chân lý
làm người quả là
một tai hại quá
nặng nề!
Bao nhiêu năm
tháng đã trôi
qua, được học
hỏi, được đào
tạo, có học sinh
sinh viên nào mà
không nghe đến :”Vì
lợi ích mười năm
trồng cây, Vì
lợi ích trăm năm
trồng người”
thế mà có mấy ai
suy niệm rằng
làm người là vô
cùng khó khăn
đến độ phải xác
tín rằng không
phải quyền lực,
không phải địa
vị, càng không
phải là vàng núi
bạc bể mà chỉ có
con người mới là
của quí giá, mà
con người đành
đánh mất đi, dẹp
qua một bên phần
tâm linh chủ yếu,
để mặc sức chạy
theo phù phiếm
của đời sống phù
du, và hiển
nhiên sự mất
quân bình đó là
nguồn gốc của
bao tệ nạn và
khốn đốn đè nặng
lên con người
của thời đại hôm
nay. Thật vậy,
bao lâu con
người “chưa” tìm
lại được sự quân
bình, không nói
“không” tìm lại
được sự quân
bình, chưa,bởi
lẽ luôn luôn
sống trong niềm
hy vọng để một
ngày nào đó, sớm
hay muộn, con
người thiện chí
sẽ thấy được ánh
huy hoàng của
chân lý. Lịch sử
còn để lại nhiều
mẫu sống đã được
ghi nhận và theo
dõi. Theo ông
được biết, mấy
trăm năm sau
công nguyên có
một thanh niên
tuấn tú, thông
minh, linh hoạt
khác thường, thế
mà trí tuệ cũng
như tư duy đã
không giúp gì
được cho chàng:
Lớn lên, càng
vào đời thì
chàng càng mê
mải trong lầm
lỗi, càng sa
chìm vào giông
tố. Ví như từ
đám mây đen tối,
chợt lòe ra một
tia chớp sáng,
để rồi tắt ngấm
đi… Cứ thế, suốt
cả giai đoạn quý
báu nhất trong
một đời người;
những biến động
không để cho trí
óc chàng được
thư giãn, được
dũng mãnh, cứ y
như cây sậy mỏng
manh cố gắng vực
dậy rồi lại cúi
rạp xuống đất
trước sức mạnh
của những lôi
cuốn trần tục.
May mắn thay, bà
Monica, mẹ của
chàng đã chuyên
tâm vào việc
hoán cải con
trai mình, xác
tín rằng những
gì con người
không vượt qua
được, thì chỉ có
đấng Toàn Năng,
Toàn Thiện mới
làm nên. Cứ thế,
ngày qua ngày,
chẳng chút sờn
long, hiền mẫu
đó đã gặt hái
được một kết quả
vô cùng tốt đẹp
: chàng trai
không còn lặc
hụp trong tội
lỗi, đã biến đổi
để trở thành một
nhà thần học,
một nhà hiền
triết đồng thời
là một văn sĩ
trứ danh – Thánh
Augustinus (2).
Quả thật, trong
mọi lãnh vực,
mọi tổ chức, mọi
cộng đồng nhỏ
lớn, chính con
người hãy đi vào
hy vọng. “Hy
vọng để tìm bình
an trong mình,
là nguồn hạnh
phúc”.
Phương thế đạt
được chân lý ấy
chính là :”
Muốn biết người,
phải biết mình,
biết mình để
biết người”.
Ông muốn trao
lại cho các cháu
một số kỷ niệm
của một con
người bình
thường, rất bình
thường, mà có lẽ
các cháu có thể
đoán biết là ai.
Chắc chắn không
phải là kỷ niệm
đã đi vào lịch
sử dân tộc, lịch
sử thế giới của
những bậc anh
hung hiển hách
với nhiều thành
tích vĩ đại đã
dày công xây đắp
quê hương, đặt
nền tảng hòa
bình thế giới;
hoặc giả của ai
đó tung hoành
ngang dọc, để
thỏa mãn cao
vọng làm bá chủ
toàn cầu. Không
đâu các cháu,
đây chỉ là những
kỷ niệm, những
mảnh nhỏ của đời
ông như một
khách lữ hành
sắp bước qua
đoạn đường cuối
của mình. Để làm
gì hở các cháu?
Có lẽ các cháu
ngạc nhiên, các
cháu thắc mắc?
- Có phải đã
nhiều lần, ông
nói với các cháu: ”Nói về cái
tôi không tốt,
hơn nữa cái tôi
là cái đáng ghét”.
Sao bây giờ ông
lại muốn kể cho
các cháu những
kỷ niệm liên
quan đến cuộc
đời ông? Chẳng
phải đó là nói
về cái “tôi” của
mình ư?
- Các cháu còn
nhớ những điều
ông đã nói. Còn
mong gì hơn! Các
cháu hãy nghe
ông ông nói. Vào
ban đêm, lắm khi
đang làm việc
họăc đang đọc
sách, bỗng điện
mất trời tối như
mực, phải sống
cảnh mù lòa
trong giây lát
mà đã quá phiền
muộn, bực tức vì
chẳng thấy gì,
chẳng nghe gì
ngòai những
tiếng càu nhàu
khó những chịu:
”Sáp đâu? Đèn
dầu đâu? Bao
nhiêu lần rồi
nói không nghe,
không chịu lo
sẵn sàng trước,
thấy chưa! Mau
lên, mau đi! Dầu
hỏa có chưa?
Thắp lên!”. Rồi
im lặng, im lặng
đầy khao khát
ánh sáng! Thế
rồi bổng nhiên
tất cả cùng nhau
cười òa lên,
sung sướng: ”Có
điện rồi! OK!”. Tiếng cười câu
nói lại trở về,
và cứ thế mãi
mãi trong cuộc
sống thường nhật
của con người,
của gia đình,
của xã hội chúng
ta.
Quả vậy, ánh
sánh thật huy
hòang, rực rỡ,
đem lại cho ta
bao niềm vui và
sức sống, trong
khi tối tăm gieo
u buồn, ghê sợ -
Thế nhưng có khi
nào các cháu
nghĩ rằng có
điều gì còn đáng
hãi hùng, lo sợ
hơn nhiều? Đó
chính là khi
ngọn đèn chân lý
đã tắt hẵn trong
tâm hồn mà chúng
ta nào có lo
toan tìm lại đâu!
Đến độ không còn
hoặc chẳng cần
sống với nội tâm
nữa, chỉ biết
nhìn sự vật mà
chẳng bao giờ
nghĩ ngợi gì hơn.
Thật đáng lo và
đáng buồn! Tất
cả mọi người
trong gia đình,
đặc biệt là
những người có
trọng trách đạo
đức và giáo dục,
phải là những
ngọn đèn chiếu
sang cho nhau,
và những ngọn
đèn đó phải để
lại khi vĩnh
biệt ra đi. Rồi
đây các cháu sẽ
là cha, là mẹ;
xa hơn nữa, các
cháu sẽ là ông,
là bà. Các cháu
phải chuẩn bị
những mẫu sống
sáng suốt, đó là
những ngọn đèn
các cháu phải
trao lại cho
những kẻ khác ,
nếu chẳng phải
đó là phần việc
của cái “Tôi”?
Trong nghĩa đó,
cái “Tôi”
thật cần thiết
vô cùng, phải
không các cháu?
Thân ái chào các
cháu!
(1) Blaise
Pascal (1623 –
1662) : Triết
gia và văn sĩ
Pháp.
(2) Aurelius
Augustinus, sant
Augustin(354 –
430): Văn sĩ,
triết gia, nhà
thần học.
* Xin chân thành
cảm tạ Cô Trần
Thị Mộc Lan (ái
nữ của Thầy Trần
Văn Thông) đã
cho phép Khung
Trời Sao Mai
được phổ biến
tác phẩm "Thư
Cho Tuổi Hai
Mươi" trên trang
web
khungtroisaomai.
* Xin đừng copy
nếu không có sự
chấp thuận của
gia đình Thầy
Trần Văn Thông
và
KhungTroiSaoMai.
*
Xin chân thành
cảm tạ các bạn nhóm KTSM
Sài Gòn và Vùng
Phụ Cận:
Bùi Diệu, Bùi
Mai, Trần Việt
Hùng, Kim Văn
Tiến, Trần Thị
Trung đã đánh
máy lại tác phẩm
này.
|